Thứ Tư, 12 tháng 3, 2014

LÀNG ĐỨC PHỔ




Làng Đức Phổ quê tôi có lẽ hình thành từ lâu lắm. Làng có 8 thôn nằm gần kề nhau thành cụm dân cư. Phía tây tiếp giáp với con sông, Phía bắc tiếp giáp với làng khác. Phía đông, phía nam là cánh đồng trải dài xanh mượt.
Con đê làng chạy dài từ phía tây bắc đến đông nam đi theo là những ngôi nhà và hàng cây xanh tốt. Con sông quê hiền hòa mang nặng phù sa cho những cánh đồng trù phú. Những ngôi nhà nhấp nhô tạo nên khung cảnh làng quê thanh bình.
Cánh đồng thẳng cánh cò bay. Giữa những cánh đồng là những con đường thẳng tắp rợp bóng cây xanh. Tuổi thơ tôi gắn liền với cảnh quan nơi đây. Những lần đuổi bắt bướm chạy đến mệt lã. Chúng tôi ngày ngày chạy thả diều trên con đường làng đầy gió. Bầu trời xanh ngắt, những cánh diều tung tăng bay lượn giữa không trung. Cảm giác thật hạnh phúc. Đúng như trong bài thơ “Quê Hương” nhà thơ Đỗ Trung Quân có đoạn viết:

Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay

Nhà tôi ở ngay cánh đồng. Hồi đó cha tôi có chiếc xe đạp nữ, đó là tài sản lớn của gia đình. Mỗi lần lấy xe tập đi tôi khoái hết chổ nói. Tôi lúc đó còn nhỏ khoảng 7-8 tuổi nên khó khăn lắm mới chống chân xuống đất được. Xe mới, con đường trải sỏi bằng phẳng, xe cứ bon bon, cảm giác sung sướng vô tận.
Giữa làng có cái chợ. Nhà ông bà nội tôi nằm sát bên chợ. Lúc ba đến bốn tuổi, tôi còn nhớ cảnh họp chợ như thế nào. Tôi được cha mẹ cho tiền mua bánh đa. Giá mỗi cái bánh chỉ 2 xu.
Ở quê dân làng thường quan tâm nhau. Chuyện gì xảy ra đầu làng ngõ xóm đều biết cả. Đội văn nghệ làng thường xuyên tập luyện và biểu diễn. Mỗi lần đi xem văn nghệ là tôi hưng phấn yêu cuộc đời hơn.
Người dân quê tôi kiên cường trong chiến đấu, cần cù trong lao động. Lớp lớp cha ông đã cầm súng xông ra chiến trường bảo vệ non sông. Trong số họ có nhiều người đã anh dũng hy sinh để cho tổ quốc trường tồn. Kế tục truyền thống anh hùng cách mạng của cha ông, ngày nay con cháu họ đã lao động cần mẫn để xây dựng lại quê hương ngày càng giàu đẹp.
Sau những năm chiến tranh làng quê tôi bị bom đạn cày xới. Cảnh điêu tàn sau mỗi trận bom. Tuy vậy người dân vẫn kiên cường, bất khuất, tương thân tương ái giúp nhau trong hoạn nạn. Giờ đây bộ mặt làng quê thay đổi hoàn toàn. Những nhà xây kiên cố mọc lên như nấm, có nhiều dạng nhà vườn, biệt thự. Đường làng hầu như bê tông hóa. Trong làng nhiều nhà có xe ô tô. Lớp lớp thanh niên làng đi xa làm ăn. Làng chỉ còn người già và trẻ nhỏ. Cảnh xóm làng yên tĩnh hơn xưa.

GIÀN BẦU GIÀN BÍ




Hầu như ở quê ai cũng biết giàn bầu, bí. Giàn này được dựng trên sân trước nhà hay trong vườn. Vật liệu làm là những cây chặt từ trong rừng. Người ta dựng cột lên rồi gác cây lên trên thành giàn.
Cây bầu, cây bí trồng dưới đất rồi cho leo lên giàn. Giờ giàn đã phủ một lớp cây leo. Sau thời gian một vài tháng cây ra trái nặng trĩu cả giàn. Năm xưa bố mẹ tôi hay trồng cây bí, cây bầu. Riêng quả bầu nấu canh với tôm, tép ngoài ruộng mới đánh bắt về thì không canh nào ngon bằng. Cảm giác canh ngọt, tươi, có mùi đặc trưng của bầu.
Riêng trồng bí đỏ có nhiều năm gia đình tôi thu hoạch khá. Những quả bí to đường kính 41-50 cm đỏ ngậy. Đến mùa mang bí cất vào nhà để ăn dần. Bí đỏ nấu với đỗ lạc giã nhỏ, với tỏi ăn ngon bùi, bổ. Có nhiều lần chúng tôi ăn canh bí thay cơm vì quá ngon.
Sau quá trình sinh trưởng của bí, bầu thì nó chết. Ta thu dọn chuẩn bị trồng lứa khác. Riêng giàn cây phải vài vụ mới thay giàn mới. Cứ thế giàn cứ tồn tại liên tục trong quá trinh trồng trọt của một gia đình. Thời đó phong trào trồng bầu, bí mạnh mẽ. Nhà nào cũng trồng, nhà nào cũng thu hoạch, vui lắm.
Giàn còn che nắng che mưa cho con người. ngoài ra nó còn trang trí làm đẹp cho ngôi nhà, làng mạc. Nhiều gia đình còn tạo cảnh làm giàn từ cửa ngõ vào đến sân nhà. Có nhiều nhà giàn uốn lưọn theo con đường trông rất đẹp.
Ngày nay khi mức sống cao hơn nhiều nhà đã làm giàn bằng sắt có thể để lâu hơn, chắc chắn hơn. Nhiều nhà không còn trồng bầu, bí nữa mà họ ra chợ mua. Tuy vậy giàn bầu, bí vẫn mãi đi vào tiềm thức trồng trọt của người dân quê.

Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

ĐỐN CỦI TRONG RỪNG




Lúc còn nhỏ tuổi thơ tôi gắn liền với đồng ruộng, núi rừng và biển cả. Quê tôi – thành phố Đồng Hới Quảng Bình là nơi bề ngang nhỏ nhất của Việt Nam chỉ có 50 km. Phia đông là biển, phía tây là nước bạn Lào. Dãy núi trường Sơn hùng vĩ đi ngang qua đây.
Những năm của thập kỷ 60, 70, 80 chất đốt để nấu cơm là vấn đề nan giãi. Phần lớn ở quê người ta dùng củi. Nhà tôi cách rừng khoảng 7-10 cây số. Việc đi rừng lấy củi hay cây về làm giàn bầu, giàn bí kể cả làm nhà là những câu chuyện dài không kể hết. Dạo đó rừng rậm còn gần làng, sau đó do tác động của con người mà rừng ngày càng tiến sâu vào trong. Rừng càng xa có khi phải đi 10 đến 15 km.
Người dân trong xóm hay gọi nhau cùng đi rừng. Nếu sáng mai đi thì tối nay họ đã hẹn nhau. Buổi khua 2 đến 4 giờ người ta đã gọi nhau í ới. Hành trang chuyến đi là xe ba gác, đùm cơm có kèm thức ăn, dao rựa. Tất cả đều đi bộ. Chúng tôi đến cửa rừng lúc trời còn tối, sau đó tiếp tục đi sâu vào bên trong rừng rậm. Lúc tờ mờ sáng mọi người đã đến nơi rừng sâu.
Thuở nhỏ đại ngàn Trường Sơn là điều bí ẩn đối với tôi. Tôi không hiểu nó bắt nguồn từ đâu, sao lại cao, dài, lớn và rậm rạp âm u đến như vậy. Mặc dù bị đạn bom quân thù cày xéo nhưng rừng vẫn xanh tươi, toàn là rừng nguyên sinh, cây nào cũng to mấy người ôm không xuể. Có nhiều loài thực động vật, trong đó có những loài thuộc quý hiếm nhất thế giới. Lá cây rừng to, xanh thẳm, rừng nhấp nhô tầng tầng lớp lớp giống một bức tranh thiên nhiên đồ sộ, oai phong, uy lực. Cây cối mọc chằng chịt hầu như không còn chổ trống.
Suối rừng chả cần phải nói. Nước trong khe đá, trong lòng núi chảy ra, nó trong vắt, nước ngọt lạ thường. Tiếng róc rách của nước nghe thật dễ thương. Không khí rừng trong lành, tiếng chim hót ríu ran cảnh tượng thật thanh bình. Sau những giờ đốn củi mệt nhọc buồn hôi chảy như nước chúng tôi ngồi nghỉ bên suối. Thường thì nước suối uống luôn không cần phải đun nấu. Cảm giá sung sướng khi được uống nguồn nước suối tươi mát này.
Chúng tôi dùng rựa để chặt củi nhỏ, còn những cây củi lớn thì phải đốn bằng rìu. Có những cây củi khô to lớn phải chặt mấy ngày mới xong. Việc tập kết củi là việc làm vất vã. Chổ để xe ba gác có khi xa cả cây số. Chúng tôi phải vác trên vai những bó củi hay cây củi nặng. Nhiều lúc không thể vác nỗi, phải mấy người kéo mới tập kết được.
Sau đó củi được chất lên xe, dùng dây rừng để cột néo lại. Mọi người nghỉ ngơi đôi phút ăn cơm. Bữa cơm ở rừng là cơm trắng lá đùm ăn với vừng, muối tiêu. Khi nào sang lắm thì ăn với cá cơm kho mặn, hay thịt rim sả. Ăn cơm rừng ngon hơn ở đồng bằng. Trong lúc ăn cơm mọi người cười nói vui vẽ, tiếng cười vang vọng cả đại ngàn. Lát sau chúng tôi lên đường kéo xe củi về nhà. Công đoạn này vất vã, nặng nhọc nhất. Đường đi lên dốc xuống đèo, đá sỏi lởm chởm, gập ghềnh, thật gian khổ. Người kéo, người đi sau đẩy có lúc lên dốc phải cần hỗ trợ của nhiều người xe mới lên được. Lúc xuống dốc thì nó chạy như ngựa phi nước đại, thật nguy hiểm. Vất vã lắm chúng tôi mới ra khỏi bìa rừng.
Tôi nhớ rất rõ hồi đó tôi còn nhỏ, sức yếu nên khi đẩy xe củi ra khỏi rừng là người lã mệt, đói cồn cào. Khi đi ngang qua thị trấn Cộn có cửa hàng bánh rán nhà nước. Mùi bánh thơm phức thoang thoảng cả một vùng rộng. Qua đó là tôi cứ đòi ba mẹ mua bánh. Hai hào một cái bánh to, nhưng nhiều lúc ba mẹ không có tiền mua. Tôi cứ khóc mãi cho đến khi đẩy xe củi về tận nhà. Cảm giác đó tôi còn nhớ mãi. Đó là những kỷ niệm đẹp không thể quên được.

                                                                                                          

ĐỒI GIAO TẾ(DỐC LÒI)




Kỷ niệm tuổi thơ tôi gắn liền với ngọn đồi này. Đó là ngọn đồi không phải cao lắm, nó được tạo hóa từ rất lâu. Một phía tiếp giáp với làng quê, phía kia là đồng ruộng. Nó có tên gọi “Đồi Giao Tế” vì trong những năm chiến tranh chống Mỹ trên ngọn đồi này người ta xây nhiều nhà khách của tỉnh. Rất nhiều khách trong và ngoài nước đã nghỉ chân ở đây trong đó có Chủ Tịch Cu Ba Phi Den Catxtro.
Đồi có rất nhiều sỏi đỏ, tuy vậy cây xanh vẫn mọc được. Chủ yếu là cây dương liễu. Thuở còn nhỏ tôi thấy đồi cao, hùng vĩ lắm. Đường lên đồi là con đường sỏi từ làng uốn quanh. Ông nội tôi kể lại rằng hồi xưa khi còn Pháp thuộc đồi này là rừng cây rậm rạp. Hổ sống ở đây nên ít người qua đây. Sau này người ta khai phá chặt rừng xây nhà ở.
Sát dưới chân đồi là cái giếng Đình. Nước trong và ngọt. Cả mấy xóm gần đó đều dùng nước giếng này. Nhà tôi thỉnh thoảng cũng ra đây gánh nước. Sau này có phong trào đào giếng trong nhà nên người ra lấy nước thưa dần. Tuy vậy nước ở giếng này vẫn ngon và ngọt nhất.
Trường cấp I, II làng được xây trên đồi. Đầu tiên là nhà tranh vắt đất. Sau năm 1975 trường được xây lại tường gạch, mái ngói. Tôi có thời gian học cấp I,II ở đây. Rất nhiều kỷ niệm được ghi dấu ở đây. Những ngày đầu học cấp I nhà tranh đơn sơ, dột nát. Mỗi lần trời mưa nước dột khắp nhà. Có những buổi tối chúng tôi học ca đêm, ánh sáng dùng đèn dầu hỏa. Tuy khổ cực vậy nhưng tinh thần học tập của thầy trò vẫn hăng say.
Trong những năm chiến tranh nơi đây bom đạn Mỹ  giội xuống ác liệt, vì vậy nó ghi nhiều dấu ấn của chiến tranh. Ở đây còn đặt trận địa pháo cao xạ của dân quân xã Đức Ninh. Các khẩu pháo này đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Có bài hát ca ngợi chiến công này: “Hoan hô các cụ già bắn rơi máy bay”.
Ngày nay đồi thay đổi nhiều, được san bằng hơn, có thêm trụ sở Ủy Ban xã, chợ, trạm xá. Nhà khách trở thành khu bảo tàng tỉnh. Nhà tầng, biệt thự của dân mọc lên ngày một nhiều hơn. Đường mở rộng, bê tông  hóa, cây xanh được phủ kín. Bộ mặt làng quê ở khu vực này thay đổi rõ rệt.
Con đường nối từ đường Hồ Chí Minh xuống Quốc Lộ 1 đi qua quả đồi này. Con đường còn nối thị trấn Cộn với thành phố Đồng Hới. Trong chiến tranh nó vận chuyển biết bao vũ khí, đạn dược, con người chi viện cho Miền Nam. Giờ đây nó là một trong những đường giao thông huyết mạch của thành phố. Nhà Tự Đường của gia đình chúng tôi nằm tại mặt tiền trên đường này.

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

TẾT QUÊ TÔI




Bất cứ ai đã có những năm tháng sống ở làng quê Việt Nam thì không bao giờ quên được cái tết cổ truyền dân tộc. Từ lúc sinh ra đến năm 18 tuổi tôi đã sống ở một  quê Quảng Bình. Tận mắt chứng kiến tết tại quê hương nên hiểu rất rõ những cảm xúc lúc tết đến xuân về. Tết là thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa Cũ và Mới, thời điểm con cháu xum họp. Thời khắc trăm hoa đua nỡ, báo hiệu một mùa xuân mới đang về.
Trong những năm tuổi ấu thơ, hàng ngày không có nhiều thịt cá để ăn do quê tôi quá nghèo. Nhưng khi tết đến nhà nào cũng cố gắng làm thịt mấy con gà, một con lợn nhỏ do mình nuôi được. Khoảng 3-4 giờ sáng từ ngày 27 tết nhà nhà  thức dậy để làm thịt gà hoặc lợn. Công việc này diễn ra một cách bí mật vì phải đóng thuế cao. Vì vậy việc giết mổ được tiến hành vào buổi khua để khỏi lộ bí mật. Người ta nấu nồi nước sôi thật lớn, bắt lợn chọc tiết, sau đó trụng nước sôi, cạo lông và mỗ giải phẫu. Tất cả các thứ đều sử dụng chỉ trừ lông là bỏ đi.
Nhà tôi ở gần con mương nên phần ruột được rữa sạch ở đó. Sau khi cắt mỗ xong đến công đoạn luộc. Ngon nhất là bộ lòng lợn như: tim, gan, phổi. cật… Nồi cháo lòng ngon ngây ngất làm thỏa mãn mọi thành viên gia đình.
Công việc nấu bánh chưng cũng thú vị. Trước hết là phải chuẩn bị gạo nếp, nhân bánh, lá, lạt, nồi, củi, bếp…cả nhà ngồi gói bánh chưng. Tiếng cười nói râm ran, mọi người ôn lại chuyện ngày xưa thật là vui nhộn. Bánh chưng nấu từ 8 - 12 giờ liên tục cho đến nhừ là xong. Ngày đó mẹ tôi hay làm những bánh nhỏ hơn cho chúng tôi. Khi nấu xong nồi bánh chưng cũng là lúc chúng tôi có quyền ăn những bánh nhỏ này.
Bánh in, bánh xoài cũng được tiến hành làm. Trong những ngày giáp tết con cháu dù làm ăn ở xa đều cố gắng về quê ăn tết nên ngôi nhà càng đông đúc hơn, làng xóm nhộn nhịp khác thường. Càng gần ngày tết công việc chuẩn bị càng khẩn trương hơn. Trẻ em và người lớn đều có quần áo mới, đôi dép mới.
Các phiên chợ trong những ngày giáp tết đông vui lắm. Đặc biệt phiên chợ sáng 30 tết đầy ắp người. Người mua, kẻ bán nhộn nhịp. Hàng tết được bày bán khắp nơi. Hoa tết tràn ngập rực rỡ. Đến trưa ngày hôm đó mọi người trở về nhà mình để nấu cúng giỗ. Bữa cơm tiễn năm cũ  và chào đón năm mới. Ở chổ tôi người ta gọi cúng đón ông bà. Trên bàn thờ tổ tiên các mâm quả bày rất long trọng. mâm cơm cúng bao giờ cũng có một con gà trống luộc. Sau tết người ta mang đôi chân gà này cho thầy xem trong năm tới mọi việc có suôn sẽ không?
Mùi hương trầm bay bổng khắp nơi. Những năm đó còn cho đốt pháo. Nhà nhà đều đốt pháo. Nhà ai đốt nhiều pháo là nhà đó giàu, năm đó sẽ làm ăn khấm khá. Đúng 12 giờ đêm 30 sau khi nghe lời chúc tết của Chủ Tịch nước là chương trình bắn pháo hoa. Sau đó diễn ra chương trình ca nhạc mùa xuân. Cả nhà tôi ai cũng mê ca hát nên rất thích chương trình này. Hồi xưa làm gì có ca sét, đầu đỉa, dàn loa. Tất cả chỉ qua đài Tiếng Nói Việt Nam. Sau này mới có ti vi, dàn máy.
Sáng mồng một tết là ngày đáng nhớ. Chúng tôi được mặc bộ quần áo mới. Áo trắng, quần xanh dương, đi đôi dép mới trông rất hãnh diện. trẻ em nhà nào vì nghèo phải mặc áo quần cũ là mất vui, đôi khi còn xấu hổ trước các bạn. Từ sáng sớm tinh sương chúng tôi đã ăn mặc chỉnh tề. Sau khi nhận tiền lì xì từ bố mẹ chúng tôi bắt đầu xuất hành. Cách làng tôi không xa là thị trấn nhỏ. Nơi đây diễn ra các lễ hội mùa xuân như: đánh bày chòi, đu, ca hát…

Dọc đường lên thị trấn là những cánh đồng lúa xanh mơn mỡn trải dài thẳng cánh cò bay. Mùi hương trầm thơm ngào ngạt tỏa hương khắp nẻo đường, cờ bay rợp bóng, cây cỏ mùa xuân thi nhau đâm chồi nẩy lộc. Một bức tranh thiên nhiên thanh bình với sức sống mãnh liệt làm cảm xúc làm ta lâng lâng:

“Lắng nghe như tiếng nàng xuân
Lướt trên ngọn gió thì thầm gọi hương
Nắng mai đón những giọt sương 
Chồi non ngậm nắng, uống sương ngọt ngào”.
 
Buổi chiều mồng một chúng tôi đi bộ 7 cây số về thị xã xem đua thuyền trên sông Nhật Lệ xinh đẹp. Người trên kẻ dưới la hét vui nhộn. Một cảnh tượng sông nước hữu tình mà chỉ có làng quê Việt Nam mới có được. Chiều tối chúng tôi trở về nhà sau một ngày háo hức trẫy hội. Người thấm mệt nhưng vẫn cố gắng đi thăm bà con chúc tết và nhận được bao lì xì từ cô dì, chú bác và những lời chúc tốt lành.
Ngày mồng hai, mồng ba, mồng bốn chúng tôi tiếp tục đi chơi đón xuân. Bố mẹ thì ở nhà đón khách đến chúc tết. Sau mấy ngày tết mọi việc trở lại bình thường. Rất đông người lớn trong làng đi xa trở về nơi công tác. Người lớn phải đi làm, trẻ em đi học, làng quê vắng lặng, buồn hiu, nhưng cuộc sống vẫn phải tiếp diễn. Mọi tiếc nuối muốn kéo dài mãi mãi ngày tết rồi cũng qua đi.