Thứ Bảy, 9 tháng 11, 2013

THỜI THƠ ẤU 04 - 06 TUỔI




Ba tôi sinh trưởng trong một gia đình lao động. Ông nội tôi làm nghề thợ may. Bà nội ở nhà nội trợ. Gia đình ông có 07 người con. Ba là con trai út. Tôi bắt đầu nhớ được từ ngày ba tôi chở tôi bằng xe đạp xuống thị xã Đồng Hới trên con đường từ xã Đức Phổ qua đồi Giao Tế rồi xuống cầu Đồng Cộc, cầu Mười. Lúc đó tôi mới bốn tuổi. Qua đồi Giao tế ngày ấy thật nhiều cây cối, rậm rạp. Bắt đầu xuống dốc là hàng cột đèn đường sáng chạy dọc hai bên đường, cùng những cánh đồng lúa trải dài nhìn mút mắt. Đường này là đường chính nên được tráng nhựa rất đẹp.
Thị xã Đồng Hới hồi đó thật là đẹp. Dọc theo các đường phố nhà cửa mọc san sát. Nhà tầng cũng không phải ít. Dọc đường có rất nhiều cửa hiệu, bày bán nhiều loại hàng khác nhau. Tôi là con đầu nên ba mẹ tôi rất chiều chuộng. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng tôi vẫn mặc quần áo mới, chân đi dày, đầu đội mủ ba rê, da trắng nên đi đâu ai cũng ưa nhìn. Ba mẹ cũng hay mua đồ chơi cho tôi.
Ba mẹ thời gian này ở chung với ông bà nội. Tôi nhớ nhà ông tôi ở mặt tiền đường cái nên xe cộ đi lại đông đúc. Gần nhà có cái chợ ngày ngày dân làng họp đông vui.
Năm tôi 05 tuổi ba mẹ tôi ra ở riêng.  Xung quanh nhà tôi là nhà các gì của tôi, cánh đồng ở ngay cạnh. Tất cả đều nhà tranh vắt đất. Cửa làm bằng tranh, mỗi lần mở cửa phải dùng cây chống. Chúng tôi chơi đùa cùng nhau với rất nhiều trò chơi như: thả thả diều, chơi cò cò, đuổi bắt bướm, kéo co…
Năm 1964 xẩy ra sự kiện Bắc Bộ. Đế Quốc Mỹ bắt đầu đưa quân ra miền bắc để đánh phá. Chiến tranh ác liệt bắt đầu. Hằng ngày máy bay Mỹ ném bom trên bầu trời, ngoài biển pháo địch câu vào. Bầu trời xé rít bởi những trận bom đạn. Chúng tôi bắt đầu đào hầm chử A và sống dưới đó. Cuộc sống dưới lòng đất chật chội, ngột ngạt và ẩm thấp. Hàng ngày ba mẹ đi làm, chúng tôi ở nhà trông nhau. Năm 1965 mẹ tôi sinh em gái tôi. Tôi nhớ đó là một bé gái da trắng kháu khỉnh. Ba đi dạy học ở trường cấp I. Chiến tranh nên việc đi lại rất nguy hiểm. Đồng lương ít ỏi, cuộc sống rất khó khăn.
Năm 1967 tôi vừa tròn 06 tuổi và bắt đầu đi học vỡ lòng. Máy bay Mỹ bắn phá ngày càng nhiều hơn, số lần ném bom trong ngày tăng nhiều so với những năm trước. Lớp học của chúng tôi nằm dưới hầm chử A ở trong vườn Thầy Thon. Mãnh vườn chuông vuông có hàng rào là hàng cây. Thỉnh thoảng chúng tôi ra khỏi hầm và đùa giởn ở trong mãnh vườn ấy. Thầy là người rất lùn khoảng đâu 1,1m, khuyết tật nên khi đi lại phải chống gậy. Đôi chân rất ngắn cái bụng thì to. Nhìn dáng dấp của thầy thật buồn cười. Thầy đi lại cực kỳ vất vã. Tuy vậy thầy là người tốt, thương học sinh. Tính tình thầy điềm đạm nhưng nghiêm khắc. Chúng tôi ai cũng sợ thầy.
Quê hương tôi Quảng Bình là vùng chiến tuyến giữa ta và địch. Hàng ngày chiến sự diễn ra ác liệt. Trong giờ học có tiếng bom gầm xé, tiếng máy bay gầm rít trên bầu trời.  Việc học vỡ lòng của tôi hay bị gián đoạn bởi những ngày máy bay địch đánh phá ác liệt. Những ngày này ba mẹ tôi không cho tôi đi học. Nhà tôi ở Đức Môn còn lớp học thì ở Đức Hoa. Đoạn đường từ nhà tôi đến lớp học phải đi qua cánh đồng. Đoạn cánh đồng chỉ 500 m nhưng sao hồi ấy tôi thấy rất xa. Khi máy bay oanh tạc nơi cánh đồng trống thì nó dễ phát hiện mục tiêu. Chúng tôi còn nhỏ không thể chạy ẩn nấp kịp. Thầy thì cứ động viên chúng tôi đến lớp. Tuy nhiên ba mẹ chúng tôi thì không yên tâm. Có nhiều buổi học do máy bay oanh tạc kéo dài nên chúng tôi không thể về nhà được, phải ở lại trường rất lâu mới về nhà. Những buổi học như thế ba mẹ chúng tôi vô cùng lo lắng. Thế rồi chúng tôi vẫn học xong lớp vỡ lòng.
Nhà ở những năm đó là nhà tranh vắt đất quay về hướng đông. Bọn trẻ chúng tôi hay  trèo lên băng nhà để thử cảm giác mạnh. Sau đó ba mẹ chuyển nhà sang vị trí khác gần đó. Hướng nhà đã thay đổi quay hướng nam. Mỗi lần mưa xuống nghe thật buồn và nảo nùng. Những trận mưa xối xả của miền nhiệt đới làm ngôi nhà mỏng manh hơn. Mưa dột cả nhà, gió mạnh nên chúng tôi rất lạnh. Cửa nhà là tấm cửa được lợp bằng tranh. Mỗi lần mưa xuống thì cửa được sập xuống. Đó là những gì tôi nhớ được khi học xong vỡ lòng.

Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2013

HÀ NỘI TRONG TRÁI TIM TÔI



Tôi không phải sinh ra ở Hà Nội, nhưng Hà Nội đã để lại nhiều kỷ niệm và dấu ấn trong cuộc đời tôi. Tháng 12 năm 1978 ba mẹ gữi tôi ra Hà Nội nhờ O, Dượng để học thi đại học. Thời đó đi lại cực kỳ khó khăn. Tôi bị chóng mặt nên không thể đi xe ô tô được. Ba tôi không mua được vé tàu, đành gữi tôi cho nhân viên lái tàu. Đó là một đoàn tàu chở hàng. Được ngồi ở khoang lái tàu, đó là lần đầu tiên tôi được ngồi tàu lửa. Đầu máy chạy bằng dầu diazel. Mùi dầu phủ kín trong buồng lái. Tôi ngồi bên cạnh người lái tàu. Đầu máy nặng nề nghiêng qua, nghiêng lại cứ tưởng nó trượt ra ngoài đường ray. Đoàn tàu chạy qua nhiều tỉnh và thành phố rồi đến Hà Nội.
Khoãng 12 giờ đêm tàu vào ga. Đêm đó trời se lạnh, trên sân ga nhiều đoàn tàu vào ra. Tiếng còi tàu nghe não nùng. Trời tối khua, lạnh tôi không về nhà O, Dượng ở Gia Lâm được đành phải ở lại nhà ga. Lần đầu tiên phải xa nhà nên rất nhớ nhà, nhớ cha mẹ, các em trào dâng. Tôi cứ thức mãi đến sáng mới mang ba lô ra khỏi nhà ga, bắt xe về cầu Long Biên. Cảnh phố phường thật đông vui, nhiều nhà to và có lầu. Đến cầu tôi phải đi bộ trên cầu để qua Gia Lâm. Cầu Long Biên là cầu bằng sắt, Pháp xây cách đây hơn 100 năm. Cầu dài hơn 2 km. Nơi đây đã chứng kiến hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ. Những trận bom dội xuống nhằm phá hủy cầu, nhưng nó vẫn anh dũng đứng vững sau chiến tranh. Sau khi qua cầu, đi theo đê Sông Hồng rồi tôi cũng đến được Học Viện Hậu Cần – nơi O, Dượng tôi sống và làm việc ở đó.
Sau khi xuống đê, đi dọc theo đường làng có hai hàng tre tôi hỏi thăm nhà O ở đâu? Họ chỉ tôi ra chổ O làm việc thế là O dẫn tôi về nhà. Đó là một phòng(nhà) trong nhà tập thể. Phòng tuy chật nhưng cũng đặt được 3 chiếc giường. Trong nhà có nhiều vật dụng mà ở quê không có. Tôi được gia đình O, Dượng tiếp đón như những thành viên trong gia đình. Những ngày sau đó tôi và chị Nga làm thủ tục nhập học ở trường Đại Học Nông Nghiệp I. Chúng tôi phải đi xe đạp mười mấy cây số để đến trường và ở nhà trọ một tuần mới về nhà. Ăn cơm tập thể, tiền ăn, ở, học của hai chúng tôi O lo hết. Cuộc đời tôi bắt đầu sống xa gia đình, bước vào cuộc sống tập thể từ đó.
Giữa năm 1979 O, Dượng được cấp ngôi nhà dành cho sĩ quan ở 12 A Lý Nam Đế. Ngôi nhà là niềm ước mơ của bao người. Nằm sát Thành Hà Nội, gần chợ Đồng Xuân, Lăng Bác. Nhà có diện tích 150 m2 nhưng sao hồi đó tôi cảm tưởng rộng lắm. So với nhà cũ ở Học Viện Hậu Cần là cả một trời vực.
Năm 1979 tôi đã là lưu học sinh chuẩn bị đi du học nước ngoài. Hai năm được ở gần gia đình O, Dượng, được sự chăm sóc giáo dục trực tiếp của O, Dượng, tôi trưởng thành rỏ rệt. Cứ tuần nào chủ nhật ghé về nhà O nấu bữa ăn ngon. Món thịt vịt nấu măng ăn với bún, rau sống, thỉnh thoãng nấu canh chua cá, có bia hơi. Đó là những món ăn mà chúng tôi hồi ở quê cũng không bao giờ dám mơ tưởng.
Chỉ hai năm sống và học tập ở Hà Nội nhưng đã ghi trong tâm trí tôi nhiều dấu ấn. Tôi ngạc nhiên tại sao trên đất nước Việt Nam vừa kết thúc chiến tranh ác liệt lại có một thành phố lớn, đẹp, mức sống cao so với nông thôn như vậy. Cảm nhận của tôi là vùng quê tôi Quảng Bình quá vất vã, cơ cực. Người dân một nắng hai sương mà vẫn luôn đói, lạc hậu. Khí hậu thiên nhiên khắc nghiệt, đất đai cằn cỗi.
Tôi đã chiêm ngưỡng hầu như tất cả những danh lam thắng cảnh của Hà Nội. Đó là Hồ Gươm, Chợ Đồng Xuân, Hồ Tây, Vườn Bách Thảo, Lăng Bác, Quãng Trường Ba Đình, được đi trên những con đường rợp bóng cây xanh, được chiêm ngưỡng mùi hoa sữa nồng nàn. Hà Nội có nhiều công viên, năm cửa ô, 36 phố phường…Hình ảnh thủ đô được thể hiện một phần trong bài hát “Hà Nội niềm tin và hy vọng có đoạn”:

Mặt hồ gươm vẫn lung linh mây trời
Càng toả ngát hương thơm hoa Thủ đô.
Đường lộng gió thênh thang năm cửa ô.
Nghe tiếng cười không quên niềm thương đau.
Hà Nội đó, niềm tin yêu hy vọng
Của núi sông hôm nay và mai sau…

Thời đó Hà Nội còn tàu điện. “Tiếng leng keng tàu sớm khua”  như trong một bài hát về Hà Nội gợi nhớ một thời những con tàu cần mẫn đó. Người Hà Nội ăn diện đẹp. Với bốn mùa trong năm, trang phục cũng thay đỗi theo mùa.
Mùa xuân trăm hoa đua nỡ. Hoa đào kiều diễm và quý tộc nỡ rộ khi mỗi độ xuân sang. Mùa hè hoa phượng đỏ rực. Mùa thu lá vàng rơi ngập phố, mùi hoa sửa ngào ngạt khắp phố phường. Đặc biệt mùa đông lạnh giá là lúc các mẫu thời trang được chưng diện trên khắp đường phố.
Chúng ta tự hào với thủ đô xinh đẹp, anh hùng với lịch sử 1000 năm Đông Đô Thăng Long Hà Nội. Thành phố mãi mãi trong trái tim tôi như trong trích đoạn bài “hát về Hà Nội”

Dẫu có đi bốn phương trời
Lòng vẫn nhớ về Hà Nội
Hà Nội của ta, thủ đô yêu dấu
Một thời đạn bom, một thời hòa bình.

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

CON SÔNG QUÊ TÔI




Không biết con sông quê tôi có tự bao giờ, nhưng ông nội tôi nói rằng nó hình thành từ thời ở đây chưa có người ở. Không biết điều đó có đúng không. Khi tôi bắt đầu nhận thức được thì đã thấy con sông chạy quanh co bao bọc làng như bùa hộ mệnh. Sông bắt nguồn từ trên rừng Trường Sơn mà có lẽ từ nước Lào. Sau khi chảy qua một số làng rồi mới đến làng tôi. Thường ngày nước trong vắt, nhưng mỗi khi có mưa thì nước sông đục mang nặng phù sa. Khi con sông bắt đầu chảy vào làng, người ta chắn một cái đập ngăn nước. Hai bên bờ sông có đê cao giữ nước không tràn vào nhà dân và đồng ruộng mỗi khi lũ lụt về. Từ sông này người ta đào nhiều con mương dẫn nước tưới cho đồng ruộng. Nhiều nhà dân ở chạy dọc theo bờ sông. Trên bờ sông cũng có nhiều loại cây sum sê lá như cây Cừa, cây Đa, cây Tre…
Sau khi bao bọc làng tôi sông đi qua giữa cáng đồng rồi chảy qua làng khác sau đó đổ ra biển Đông. Con sông hồi đó trong mắt của tôi nó to và vĩ đại lắm. Ngoài việc cung cấp nước cho ăn uống, sinh hoạt, vận chuyển, tưới tiêu, điều hòa khí hậu… nó còn là cảnh đẹp của bức tranh làng quê, là chổ tụ họp vui chơi nô đùa của tụi trẻ, là cảnh sông nước hữu tình, là phong thủy hòa quyện.
Dòng sông này gắn liền với nhiều kỷ niệm của đời tôi. Những trưa hè nắng oi bức bọn trẻ chúng tôi thường nhảy xuống sông tắm, bơi lội. Đoạn sông gần nhà ông nội có nhiều cây Cừa. Trong số đó có cây mọc nhô ra hẳn ngoài sông. Đó là nơi tụ họp tắm tập thể giống như bãi tắm bây giờ. Tắm ở đây có bóng râm, lại có cành đu ra sông để nhảy. Thật là sung sướng khi leo theo cành cây ra giữa sông rồi nhảy xuống nước. Trong bài thơ Con Sông Quê Hương Tế Hanh có đoạn viết:

Chẳng biết nước có giử ngày giử tháng
giử bao nhiêu kỷ niệm của giòng trôi
Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi
hoặc là:

Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu
Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy
Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy
Bầy chim non khua lội bên sông
Tôi giơ tay ôm nước vào lòng
Sông mỡ nước ôm tôi vào dạ

Gần những cây Cừa đó có cây cầu Đức Nghía. Cầu này xây dựng đã lâu, nhưng bom địch nhiều lần đánh phá làm hỏng. Cầu được sửa chữa nhiều lần. Tuy nhiên hồi đó do làm ẩu hay do kỷ thuật thi công kém mà các cột cầu cũ còn nhiều. Khi nước lên chân cầu không nhìn thấy. Khi nước xuống chân cầu cũ lại nhô lên. Chúng tôi hay leo lên cầu rồi nhảy xuống nước ở độ cao 8-10m. Có lần ấy tôi vẫn nhảy như mọi khi ngày đó con nước lên. Vừa chạm nước mấy giây tôi cảm giác nghe tiếng va chạm dưới ngón chân mình. Khi nỗi lên khỏi mặt nước máu phụt ra. Tôi nhanh chóng lên bờ thì phát hiện mình nhảy chạm phải chân cầu cũ. Mãi mấy năm sau ngón chân đó còn tê.
Có một lần tôi và chú Thiện đi câu lươn về. Do trời quá trưa nên muốn bơi qua sông về nhà cho nhanh. Khi chú vừa xuống nước, đoạn đó sâu chú lại không biết bơi nên bắt đầu uống nước. Tôi phải cố hết sức để kéo chú lên bờ. Lần đó hai anh em suýt chết. Hồi đó chúng tôi còn nhỏ lắm. Có lẽ tôi lên 12 chú Thiện lên 4 tuổi.
Lại một lần khác khi tôi đang du học nước ngoài trong đợt về phép năm 1984. Tôi, anh họ(anh Kỳ), chú Hùng (lúc đó 5 tuổi) đi xuống bến đò Ly Kỳ Chơi tắm sông. Bến sông này rất nhiều kỷ niệm với nên tôi nhã ý mời mọi người đi xem lại bến sông xưa. Khi xuống đến nơi bến sông không còn nữa, chỉ có lối mòn xuống sông và cỏ mọc cao bụng người. Chúng tôi mãi kể chuyện ngày xưa khi nhìn lại không thấy chú Hùng đâu. Xung quanh trống trãi, im lặng. Chúng tôi phán đoán khả năng chú nhảy xuống nước. Thế là tôi lao xuống nước mò tìm. May quá chổ bờ sông thoai thoải cạn nên tôi mò trúng chú. Kéo chú lên, làm hô hấp nhân tạo chú ói nước ra và thở được. Có lẽ nếu chậm tí nữa chú sẽ không sống được.
Chúng tôi khi lớn lên mỗi người đi theo một hướng. Kẻ vào nam, người ra bắc, kẻ ở lại quê, người đi bộ đội, du học… Nhưng dù ở đâu, cương vị nào chúng tôi vẫn nhớ về con sông quê hương. Riêng tôi mấy chục năm du học và làm việc ở nước ngoài mặc dù đi qua rất nhiều con sông trên thế giới nhưng tôi luôn nhớ con sông quê tôi. Con sông của làng quê Việt Nam mộc mạc, giản dị, gắn kết bao tuổi thơ đúng như nhà thơ Tế Hanh viết:

Chúng tôi lớn lên mỗi người mổi ngã
Kẻ sớm khuya chài lưới bên sông
Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng
Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến

Nhưng lòng tôi như mưa người gió biển
Lại trở về lưu luyến bên sông

Tôi nhớ không nguôi ánh nắng màu vàng
Tôi quên sao được sắc trời xanh biếc
Tối nhớ cả những người không quên biết
Những buổi trưa tôi đứng dưới hàng cây
Bổng nghe dâng một nổi tràn đầy
Hình ảnh con sông quê mát rượi
Lai láng chảy hồn tôi như suối tưới

Quê hương ơi tình tôi cũng như sông
Tình Bắc nam tuôn chãy một giòng
Không ghềnh thác nào ngăn cản được
Tôi lại trở về nơi tôi hằng mơ ước
Tôi sẽ trở về sông nước của quê hương
Tôi sẽ trở về sông nước của tình thương

Hôm nay đây dù sống xa quê nhưng cứ mỗi dịp về quê tôi lại ra bờ sông thả hồn với những kỷ niệm một thời. Dù đời người có thay đỗi nhưng con sông quê vẫn trường tồn với thời gian. Nó ghi lại những dấu ấn lịch sử, dòng sông mang nặng phù sa giúp ích cho đời.

                                         

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013

CHIẾN THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975




Năm đó tôi đang học lớp 7 chuẩn bị lên lớp 8 hệ 10 năm. Mấy ngày trước tin quân dân ta giãi phóng nhiều tỉnh lỵ Miền Nam. Nhưng chưa có chiến thắng hoàn toàn. Người người vui sướng lắm. Đi đâu cũng nghe tin chiến thắng. Thế hệ chúng tôi đã sống trong chiến tranh, đã từng nằm hầm tránh bom địch nhiều năm, đói, rét, tận mắt chứng kiến sự ác liệt của chiến tranh nên hơn ai hết rất mong đất nước mau chóng hòa bình. Cả mấy tháng nay, nhà tôi đang đúc táp lô để xây nhà. Hồi đó phần lớn người dân tự làm nhà. Gỗ thì chặt ở rừng, táp lô tự đúc, cát lấy tại lòng sông, công thì tự nhà làm và nhờ thêm mấy người bà con. Chỉ có xi măng là phải mua.

Ngày  30 tháng 4 năm 1975 chúng tôi đang đúc gạch tại nhà ông nội thì nghe Đài Tiếng Nói Việt Nam phát tin Sài Gòn đã hoàn toàn giãi phóng. Cái tin như tia chớp lan đi đến tất cả mọi miền tổ quốc. Niềm vui sướng vô bờ bến ào ạt tràn về làm nức lòng triệu triệu con tim. Ngày ấy tôi tròn 14 tuổi. Tôi đã nhãy đựng lên, khóc vì chiến thắng. Nước mắt nào cho đủ trong lúc này. Cảm xúc lúc đó lâng lâng thật khó tả. 
Thế là chiến tranh đã hoàn toàn kết thúc. Bắc Nam sum họp một nhà, non sông gấm vóc Việt Nam đã thu về một mối. Từ nay không còn cảnh chết chóc do bom đạn gây nên. Chúng ta đã có tự do, hòa bình để xây dựng đất nước. Để đất nước có ngày hạnh phúc hôm nay đã có hàng triệu người con của dân tộc đã ngã xuống, máu và xương thịt của họ nằm lại nơi chiến trường, hậu phương. Họ đã về với đất mẹ, về với cõi vĩnh hằng. Đất nước, tổ quốc và các thế hệ con cháu mai sau mãi mãi biết ơn, ghi nhớ các anh các chị vì nền độc lập của dân tộc đã anh dũng hy sinh. Đã có biết bao bà mẹ vĩnh viễn mất con, vợ mất chồng, con mất cha, cảnh gia đình ly tán. Nền kinh tế của đất nước suy tàn, thua kém các nước trong khu vực.

Cuối tháng 5 năm ấy trường cấp 3 Thị Xã Đồng Hới báo tin tôi đã thi đậu vào lớp 8 vào cấp ba(lớp 10 bây giờ). Niềm vui như được nhân lên gấp bội. Hồi đó do chiến tranh, nghèo khó ít gia đình cho con cái học lên cấp 3. Đây cũng là vinh dự của tôi và gia đình. Hồi nhỏ  lúc chưa đi học tôi thấy học sinh cấp một oai phong lắm. Khi học cấp một tôi lại thấy học sinh cấp hai hơn hẳn mình nhiều. Cho đến khi học cấp hai tôi lại thấy học sinh cấp ba sao mà vinh dự vậy. Khi đã là học sinh cấp ba tôi mơ một ngày nào đó mình sẽ vào cổng trường đại học. Khi đã trở thành sinh viên tôi mơ đi du học nước ngoài. Khi được du học tôi ước mơ mình thành tiến sĩ.  có nhà lầu có xe hơi.
Tất cả điều đó đã thành hiện thực theo thời gian. Quả là những ước mơ không viễn vông nhưng cũng không phải dễ đối với cậu dân miền quê đầy khói lửa. Không biết sao hồi đó khát vọng học giỏi và cống hiến thật cháy bỏng. Việc học của tôi không cần ba mẹ nhắc nhiều. Một buổi đến trường, một buổi phải làm việc giúp gia đình như: đi gặt lúa, làm cỏ, xay lúa thành gạo, giữ em, đi rừng đốn củi... Tất cả đều làm bằng tay chứ không có máy móc như bây giờ.Tôi đã nuôi trong mình ước mơ sau này trở thành kỹ sư, bác sĩ và đã cố gắng hết sức vươn lên trong khó khăn, thiếu thốn.

Những tháng ngày sau đó cả dân tộc như chìm sâu trong âm hưởng chiến thắng. Bài hát hùng tráng “Đất Nước Trọn Niềm Vui”  nhạc và lời Hoàng Hà như khúc khãi hoàn vang mãi vang mãi cho đến tận ngày hôm nay và mãi mãi về sau. Trong đó có đoạn:

Ta đi trong muôn ánh sao vàng, rừng cờ tung bay!
Rộn ràng bao mê say những bước chân dồn về đây.
Sài Gòn ơi!
Vững tin đã bao năm rồi một ngày vui giải phóng.
Ta nghe vang như tiếng Bác Hồ dậy từ non sông!
Rạo rực sao hôm nay, Bác vui với hội toàn dân.
Thành Đồng ơi!
Sắt son đã vang khải hoàn.
Ôi! hạnh phúc vô biên!
Hát nữa đi em, những lời yêu thương…
Đời rực sáng những ánh mắt lấp lánh,
Ta muốn ôm hôn mỗi tấc đất quê hương,
ta muốn ca vang bước chân những người chiến sĩ giải phóng kiên cường!
Đêm hoa đăng, những môi cười là bó hoa đời tươi thắm tuyệt vời,
Đẹp niềm tin mãi mãi Tổ Quốc muôn đời,
Trọn vẹn cả non sông thống nhất rạng rỡ Việt Nam.

Chúng ta tự hào vì được sinh ra trên đất nước Việt Nam yêu dấu. Một đất nước có bốn ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Một dân tộc bách chiến, bách thắng. Một dân tộc không chịu làm nô lệ, không khuất phục trước bất kỳ kẻ thù nào. Chiến thắng mùa xuân năm 1975  là một trong những trang sử vàng chói lọi trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của cha ông ta. Dân tộc Việt Nam từ trước đến giờ và từ nay trở về sau quyết không cho bất cứ thế lực ngoại xâm nào động đến từng tấc đất tổ quốc mình. Mỗi khi đất nước lâm nguy tinh thần đoàn kết, yêu nước, khí phách dân lại bùng lên thiêu trụi tất cả mọi kẻ thù xâm lược. Trên tinh thần đó chúng ta hoàn toàn có cơ sở tin tưởng rằng: đất nước Việt Nam nhất định phồn thịnh, hùng cường. Dân tộc ta nhất định ấm no, hạnh phúc, phát triễn sánh vai các dân tộc trên toàn thế giới.