Thứ Tư, 19 tháng 3, 2014

MÓN ĂN QUÊ




Quê tôi có nhiều món ăn ngon. Đó là những món do người dân ở đây tự trồng trọt, chăn nuôi hay đánh bắt được và tự nấu. Sau đây là những món đó:
1.    Món rau muống xào tỏi
Rau muống trồng ở vườn có nước mưa hay lấy từ sông. Phân chuồng là phân bón chính, ngoài ra còn có phân đạm. Rau ngon nhất là sau những ngày trời mưa, rau trở nên xanh non. Người ta hái rau, rữa sạch. Nấu nước sôi luộc qua rau. Cho dầu vào chảo, phi tỏi cho rau luộc vào chiên, cho thêm đậu lạc rang sẳn vào. Cho gia vị vừa ăn. Vớt rau ra đĩa. Rau nên xào vừa chín giòn.
2.    Cá lóc nấu canh chua
Cá lóc đồng tự nhiên, rữa sạch, cắt khúc, cho gia vị vào ướp. Cho dầu vào chảo, phi hành, cho cá vào. Cá rán sơ qua, cho nước vừa ăn. Nấu sôi nồi canh. Cho cà chua và khế chua(cắt nhỏ) vào chảo. Nêm canh vừa cho ra tô.
3.    Cháo lươn đồng
Cắt tiết lươn đồng, cho nước sôi trụng qua, dùng tro để chà sạch nhớt lươn. Mỗ lươn, vứt hết ruột. Rữa sạch, cho nguyên con lươn đã được làm sạch vào luộc đến chín. Mang lươn ra xé nhỏ cho vào nồi nước  luộc lươn bỏ ít gạo, cho gia vị vào nấu nhừ gạo. Cho rau quế vào cháo, nêm vừa.
4.    Mực ống luộc
Mực ống ở Quảng Bình thuộc loại mực ngon. Mực ngư dân vừa đi câu về, rữa sạch, cho vào nồi luộc chín tới. cho ra đĩa, cắt thành lát, cắt ít lát gừng vào. Làm chén nước mắm thật ngon chấm với mực.
5.    Bánh bột lọc
Củ sắn rữa sạch, mang đi mài, chưng cất bột. Phơi khô bột, cho bột vào chậu, dùng nước sôi để trộn thật đều. Nặn bột vừa phải thành hình như tán nấm, cho nhân đã chuẩn bị trước vào(thường thì ngưới ta làm nhân tôm thịt với măng, nấm mộc nhĩ). Lấy lá gói lại cho vào nồi nấu chín.
6.    Khoai, bắp luộc cũng là những món ngon của quê tôi. Ngoài ra còn rất nhiều
món ăn khác như cá kho các loại, gồm cá nước ngọt và cá nước mặn.

Thứ Tư, 12 tháng 3, 2014

MÙA GẶT LÀNG QUÊ




Tôi được may mắn sinh ra tại một làng quê làm nông nghiệp. Vì vậy mùa gặt là chuyện thường đối với tôi. Vào mùa những cánh đồng biến thành màu vàng mênh mông. Hạt lúa nặng trĩu chờ ngày thu hoạch.
Trước đây lúa được những người nông cắt rồi gom lại, bó tự gánh về hoặc dùng xe ba gác chở về. Những ngày mùa làng quê rộn rã tiếng người xe. Ai ai cũng háo hức hy vọng một vụ mùa bội thu. Những đoàn người mang đầy thóc lúa về sân kho Hợp Tác Xã. Lúc này không khí lao động khẩn trương, lá cờ đỏ sao vàng tung bay khắp cánh đồng tạo nên một bức trang huyền ảo.

Quê tôi thường làm hai vụ: hè, thu đông. Ngày xưa mô hình Hợp Tác Xã làm chấm công. Lúa được mang về sân thôn xóm. Sau đó đến khâu tuốt lúa. Những năm còn học phổ thông tôi tham gia nhiều công việc trong mùa gặt. Có nhiều bữa phải làm sáng đêm đập lúa. Khổ nhất là sau mùa lụt, bùn phủ một lớp nên khi tuốt lúa bụi bay mù mịt cả hội trường. Sáng hôm sau về nhà áo quần, người như dưới đất chui lên.
Trong mùa gặt có công đoạn phơi lúa. Nhà, sân kể cả đường đi đều tận dụng để làm chổ phơi. Khổ nhất là vào những ngày mùa gặp mưa. Nhiều lúc không gom kịp lúa bị ướt hư hỏng. Nhất là những cơn mưa bất chợt. Vì vậy chúng tôi phải quan sát rất kỷ bầu trời. Có những lúc trời nhiều mây đen che kín, chúng tôi nhanh chóng thu lúa cất vào trong nhà nhưng trời không mưa, sau lại nắng, hoặc ngược lại.
Mùa gặt vụ hè cũng là lúc nước khô hạn. Cá trên đồng ruộng được dồn về những vũng nước. Đây là lúc người ta bắt nhiều cá dễ dàng. Những con cá lóc, cá rô đồng béo ngậy. Những loài cá này thường nấu với đồ chua, hoặc kho tộ ăn không thể quên được.
Mùa gặt thu đông thường đi liền với mùa mưa lụt. Có năm lụt lớn lúa bị ngập úng. Mùa này tôm cá nhiều. Thời tiết mát mẽ hơn. Vụ này thích hợp với việc trồng lúa nếp.

LÀNG ĐỨC PHỔ




Làng Đức Phổ quê tôi có lẽ hình thành từ lâu lắm. Làng có 8 thôn nằm gần kề nhau thành cụm dân cư. Phía tây tiếp giáp với con sông, Phía bắc tiếp giáp với làng khác. Phía đông, phía nam là cánh đồng trải dài xanh mượt.
Con đê làng chạy dài từ phía tây bắc đến đông nam đi theo là những ngôi nhà và hàng cây xanh tốt. Con sông quê hiền hòa mang nặng phù sa cho những cánh đồng trù phú. Những ngôi nhà nhấp nhô tạo nên khung cảnh làng quê thanh bình.
Cánh đồng thẳng cánh cò bay. Giữa những cánh đồng là những con đường thẳng tắp rợp bóng cây xanh. Tuổi thơ tôi gắn liền với cảnh quan nơi đây. Những lần đuổi bắt bướm chạy đến mệt lã. Chúng tôi ngày ngày chạy thả diều trên con đường làng đầy gió. Bầu trời xanh ngắt, những cánh diều tung tăng bay lượn giữa không trung. Cảm giác thật hạnh phúc. Đúng như trong bài thơ “Quê Hương” nhà thơ Đỗ Trung Quân có đoạn viết:

Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay

Nhà tôi ở ngay cánh đồng. Hồi đó cha tôi có chiếc xe đạp nữ, đó là tài sản lớn của gia đình. Mỗi lần lấy xe tập đi tôi khoái hết chổ nói. Tôi lúc đó còn nhỏ khoảng 7-8 tuổi nên khó khăn lắm mới chống chân xuống đất được. Xe mới, con đường trải sỏi bằng phẳng, xe cứ bon bon, cảm giác sung sướng vô tận.
Giữa làng có cái chợ. Nhà ông bà nội tôi nằm sát bên chợ. Lúc ba đến bốn tuổi, tôi còn nhớ cảnh họp chợ như thế nào. Tôi được cha mẹ cho tiền mua bánh đa. Giá mỗi cái bánh chỉ 2 xu.
Ở quê dân làng thường quan tâm nhau. Chuyện gì xảy ra đầu làng ngõ xóm đều biết cả. Đội văn nghệ làng thường xuyên tập luyện và biểu diễn. Mỗi lần đi xem văn nghệ là tôi hưng phấn yêu cuộc đời hơn.
Người dân quê tôi kiên cường trong chiến đấu, cần cù trong lao động. Lớp lớp cha ông đã cầm súng xông ra chiến trường bảo vệ non sông. Trong số họ có nhiều người đã anh dũng hy sinh để cho tổ quốc trường tồn. Kế tục truyền thống anh hùng cách mạng của cha ông, ngày nay con cháu họ đã lao động cần mẫn để xây dựng lại quê hương ngày càng giàu đẹp.
Sau những năm chiến tranh làng quê tôi bị bom đạn cày xới. Cảnh điêu tàn sau mỗi trận bom. Tuy vậy người dân vẫn kiên cường, bất khuất, tương thân tương ái giúp nhau trong hoạn nạn. Giờ đây bộ mặt làng quê thay đổi hoàn toàn. Những nhà xây kiên cố mọc lên như nấm, có nhiều dạng nhà vườn, biệt thự. Đường làng hầu như bê tông hóa. Trong làng nhiều nhà có xe ô tô. Lớp lớp thanh niên làng đi xa làm ăn. Làng chỉ còn người già và trẻ nhỏ. Cảnh xóm làng yên tĩnh hơn xưa.

GIÀN BẦU GIÀN BÍ




Hầu như ở quê ai cũng biết giàn bầu, bí. Giàn này được dựng trên sân trước nhà hay trong vườn. Vật liệu làm là những cây chặt từ trong rừng. Người ta dựng cột lên rồi gác cây lên trên thành giàn.
Cây bầu, cây bí trồng dưới đất rồi cho leo lên giàn. Giờ giàn đã phủ một lớp cây leo. Sau thời gian một vài tháng cây ra trái nặng trĩu cả giàn. Năm xưa bố mẹ tôi hay trồng cây bí, cây bầu. Riêng quả bầu nấu canh với tôm, tép ngoài ruộng mới đánh bắt về thì không canh nào ngon bằng. Cảm giác canh ngọt, tươi, có mùi đặc trưng của bầu.
Riêng trồng bí đỏ có nhiều năm gia đình tôi thu hoạch khá. Những quả bí to đường kính 41-50 cm đỏ ngậy. Đến mùa mang bí cất vào nhà để ăn dần. Bí đỏ nấu với đỗ lạc giã nhỏ, với tỏi ăn ngon bùi, bổ. Có nhiều lần chúng tôi ăn canh bí thay cơm vì quá ngon.
Sau quá trình sinh trưởng của bí, bầu thì nó chết. Ta thu dọn chuẩn bị trồng lứa khác. Riêng giàn cây phải vài vụ mới thay giàn mới. Cứ thế giàn cứ tồn tại liên tục trong quá trinh trồng trọt của một gia đình. Thời đó phong trào trồng bầu, bí mạnh mẽ. Nhà nào cũng trồng, nhà nào cũng thu hoạch, vui lắm.
Giàn còn che nắng che mưa cho con người. ngoài ra nó còn trang trí làm đẹp cho ngôi nhà, làng mạc. Nhiều gia đình còn tạo cảnh làm giàn từ cửa ngõ vào đến sân nhà. Có nhiều nhà giàn uốn lưọn theo con đường trông rất đẹp.
Ngày nay khi mức sống cao hơn nhiều nhà đã làm giàn bằng sắt có thể để lâu hơn, chắc chắn hơn. Nhiều nhà không còn trồng bầu, bí nữa mà họ ra chợ mua. Tuy vậy giàn bầu, bí vẫn mãi đi vào tiềm thức trồng trọt của người dân quê.

Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2014

ĐỐN CỦI TRONG RỪNG




Lúc còn nhỏ tuổi thơ tôi gắn liền với đồng ruộng, núi rừng và biển cả. Quê tôi – thành phố Đồng Hới Quảng Bình là nơi bề ngang nhỏ nhất của Việt Nam chỉ có 50 km. Phia đông là biển, phía tây là nước bạn Lào. Dãy núi trường Sơn hùng vĩ đi ngang qua đây.
Những năm của thập kỷ 60, 70, 80 chất đốt để nấu cơm là vấn đề nan giãi. Phần lớn ở quê người ta dùng củi. Nhà tôi cách rừng khoảng 7-10 cây số. Việc đi rừng lấy củi hay cây về làm giàn bầu, giàn bí kể cả làm nhà là những câu chuyện dài không kể hết. Dạo đó rừng rậm còn gần làng, sau đó do tác động của con người mà rừng ngày càng tiến sâu vào trong. Rừng càng xa có khi phải đi 10 đến 15 km.
Người dân trong xóm hay gọi nhau cùng đi rừng. Nếu sáng mai đi thì tối nay họ đã hẹn nhau. Buổi khua 2 đến 4 giờ người ta đã gọi nhau í ới. Hành trang chuyến đi là xe ba gác, đùm cơm có kèm thức ăn, dao rựa. Tất cả đều đi bộ. Chúng tôi đến cửa rừng lúc trời còn tối, sau đó tiếp tục đi sâu vào bên trong rừng rậm. Lúc tờ mờ sáng mọi người đã đến nơi rừng sâu.
Thuở nhỏ đại ngàn Trường Sơn là điều bí ẩn đối với tôi. Tôi không hiểu nó bắt nguồn từ đâu, sao lại cao, dài, lớn và rậm rạp âm u đến như vậy. Mặc dù bị đạn bom quân thù cày xéo nhưng rừng vẫn xanh tươi, toàn là rừng nguyên sinh, cây nào cũng to mấy người ôm không xuể. Có nhiều loài thực động vật, trong đó có những loài thuộc quý hiếm nhất thế giới. Lá cây rừng to, xanh thẳm, rừng nhấp nhô tầng tầng lớp lớp giống một bức tranh thiên nhiên đồ sộ, oai phong, uy lực. Cây cối mọc chằng chịt hầu như không còn chổ trống.
Suối rừng chả cần phải nói. Nước trong khe đá, trong lòng núi chảy ra, nó trong vắt, nước ngọt lạ thường. Tiếng róc rách của nước nghe thật dễ thương. Không khí rừng trong lành, tiếng chim hót ríu ran cảnh tượng thật thanh bình. Sau những giờ đốn củi mệt nhọc buồn hôi chảy như nước chúng tôi ngồi nghỉ bên suối. Thường thì nước suối uống luôn không cần phải đun nấu. Cảm giá sung sướng khi được uống nguồn nước suối tươi mát này.
Chúng tôi dùng rựa để chặt củi nhỏ, còn những cây củi lớn thì phải đốn bằng rìu. Có những cây củi khô to lớn phải chặt mấy ngày mới xong. Việc tập kết củi là việc làm vất vã. Chổ để xe ba gác có khi xa cả cây số. Chúng tôi phải vác trên vai những bó củi hay cây củi nặng. Nhiều lúc không thể vác nỗi, phải mấy người kéo mới tập kết được.
Sau đó củi được chất lên xe, dùng dây rừng để cột néo lại. Mọi người nghỉ ngơi đôi phút ăn cơm. Bữa cơm ở rừng là cơm trắng lá đùm ăn với vừng, muối tiêu. Khi nào sang lắm thì ăn với cá cơm kho mặn, hay thịt rim sả. Ăn cơm rừng ngon hơn ở đồng bằng. Trong lúc ăn cơm mọi người cười nói vui vẽ, tiếng cười vang vọng cả đại ngàn. Lát sau chúng tôi lên đường kéo xe củi về nhà. Công đoạn này vất vã, nặng nhọc nhất. Đường đi lên dốc xuống đèo, đá sỏi lởm chởm, gập ghềnh, thật gian khổ. Người kéo, người đi sau đẩy có lúc lên dốc phải cần hỗ trợ của nhiều người xe mới lên được. Lúc xuống dốc thì nó chạy như ngựa phi nước đại, thật nguy hiểm. Vất vã lắm chúng tôi mới ra khỏi bìa rừng.
Tôi nhớ rất rõ hồi đó tôi còn nhỏ, sức yếu nên khi đẩy xe củi ra khỏi rừng là người lã mệt, đói cồn cào. Khi đi ngang qua thị trấn Cộn có cửa hàng bánh rán nhà nước. Mùi bánh thơm phức thoang thoảng cả một vùng rộng. Qua đó là tôi cứ đòi ba mẹ mua bánh. Hai hào một cái bánh to, nhưng nhiều lúc ba mẹ không có tiền mua. Tôi cứ khóc mãi cho đến khi đẩy xe củi về tận nhà. Cảm giác đó tôi còn nhớ mãi. Đó là những kỷ niệm đẹp không thể quên được.

                                                                                                          

ĐỒI GIAO TẾ(DỐC LÒI)




Kỷ niệm tuổi thơ tôi gắn liền với ngọn đồi này. Đó là ngọn đồi không phải cao lắm, nó được tạo hóa từ rất lâu. Một phía tiếp giáp với làng quê, phía kia là đồng ruộng. Nó có tên gọi “Đồi Giao Tế” vì trong những năm chiến tranh chống Mỹ trên ngọn đồi này người ta xây nhiều nhà khách của tỉnh. Rất nhiều khách trong và ngoài nước đã nghỉ chân ở đây trong đó có Chủ Tịch Cu Ba Phi Den Catxtro.
Đồi có rất nhiều sỏi đỏ, tuy vậy cây xanh vẫn mọc được. Chủ yếu là cây dương liễu. Thuở còn nhỏ tôi thấy đồi cao, hùng vĩ lắm. Đường lên đồi là con đường sỏi từ làng uốn quanh. Ông nội tôi kể lại rằng hồi xưa khi còn Pháp thuộc đồi này là rừng cây rậm rạp. Hổ sống ở đây nên ít người qua đây. Sau này người ta khai phá chặt rừng xây nhà ở.
Sát dưới chân đồi là cái giếng Đình. Nước trong và ngọt. Cả mấy xóm gần đó đều dùng nước giếng này. Nhà tôi thỉnh thoảng cũng ra đây gánh nước. Sau này có phong trào đào giếng trong nhà nên người ra lấy nước thưa dần. Tuy vậy nước ở giếng này vẫn ngon và ngọt nhất.
Trường cấp I, II làng được xây trên đồi. Đầu tiên là nhà tranh vắt đất. Sau năm 1975 trường được xây lại tường gạch, mái ngói. Tôi có thời gian học cấp I,II ở đây. Rất nhiều kỷ niệm được ghi dấu ở đây. Những ngày đầu học cấp I nhà tranh đơn sơ, dột nát. Mỗi lần trời mưa nước dột khắp nhà. Có những buổi tối chúng tôi học ca đêm, ánh sáng dùng đèn dầu hỏa. Tuy khổ cực vậy nhưng tinh thần học tập của thầy trò vẫn hăng say.
Trong những năm chiến tranh nơi đây bom đạn Mỹ  giội xuống ác liệt, vì vậy nó ghi nhiều dấu ấn của chiến tranh. Ở đây còn đặt trận địa pháo cao xạ của dân quân xã Đức Ninh. Các khẩu pháo này đã bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Có bài hát ca ngợi chiến công này: “Hoan hô các cụ già bắn rơi máy bay”.
Ngày nay đồi thay đổi nhiều, được san bằng hơn, có thêm trụ sở Ủy Ban xã, chợ, trạm xá. Nhà khách trở thành khu bảo tàng tỉnh. Nhà tầng, biệt thự của dân mọc lên ngày một nhiều hơn. Đường mở rộng, bê tông  hóa, cây xanh được phủ kín. Bộ mặt làng quê ở khu vực này thay đổi rõ rệt.
Con đường nối từ đường Hồ Chí Minh xuống Quốc Lộ 1 đi qua quả đồi này. Con đường còn nối thị trấn Cộn với thành phố Đồng Hới. Trong chiến tranh nó vận chuyển biết bao vũ khí, đạn dược, con người chi viện cho Miền Nam. Giờ đây nó là một trong những đường giao thông huyết mạch của thành phố. Nhà Tự Đường của gia đình chúng tôi nằm tại mặt tiền trên đường này.