Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

NGƯỜI NGA ĐÔN HẬU VÀ TỐT BỤNG


 
Lúc còn ở Việt Nam tôi đã đọc một số sách Nga như: Sông Đông Êm Đềm, Nữ Nhi thời chiến, Chiến Tranh Và Hòa Bình, thơ Puskin… và xem nhiều bộ phim Nga. Qua đó tôi cũng đã biết được một số tính cách người Nga. Nhưng đó chỉ là gián tiếp. Lần này tôi có cơ hội học tập, công tác ở Nga 13 năm. Được trực tiếp sống và làm việc với họ nên hiểu về họ nhiều hơn.
Tháng 10 năm 1980 tôi sang Nga lần đầu. Kiến thức tiếng Nga mới chỉ là đọc, viết, nghe, nói sơ sơ. Khi đi ra phố phải hỏi rất nhiều. Có một lần chúng tôi không biết đường đi phải hỏi một cụ già đang đi ngược chiều. Sau khi nghe chúng tôi hỏi bập bẹ bằng tiếng Nga cụ thốt lên: Ôi! sứ giả Việt Nam anh hùng đây rồi! Rồi cụ hỏi chúng tôi đến đây lâu chưa? Sức khỏe thế nào. Sau đó cụ bảo đi theo cụ. Dẫn chúng tôi đi theo đường ngược chiều mình cần đi khoảng 1 km, cụ hỏi chúng tôi đủ điều. Cuối cùng cụ chỉ đường rất kỉ. Sau khi chúng tôi đi cụ còn nán lại nhìn xem chúng tôi đi có đúng đường không. Kỷ niệm nhớ nhất của tôi khi đó là chúng tôi đi đâu cũng được chào hỏi.
Người Nga họ vui vẽ, nụ cười luôn trên môi, nét mặt tươi và đôn hậu. Đặc biệt là những chàng trai cô gái Nga, hồn nhiên, trên nét mặt không có một nét nào thể hiện những khó khăn trắc trở của thời thơ ấu. Đặc biệt đẹp nhất là những cô gái da trắng hồng, tóc bạch kim, mắt xanh sâu thẳm. Dáng của họ thật quý phái, chân thẳng, dài, vòng 1,2,3 chuẩn. nếu quan sát kỷ thì họ giống như được sinh ra từ thế giới khác văn minh hơn chúng ta. Cứ mỗi lần nghe nhạc là họ nhún nhãy như phản ứng tự nhiên vậy. Bên ngoài cũng khẳng định họ rất tự tin.
Mặc dù đã học một năm ở trường Đại Học Ngoại Ngữ Hà Nội nhưng chưa đủ. Năm thứ nhất khi sang Mông Cổ, chúng tôi phải học thêm 1 năm tiếng Nga nữa để chuẩn bị cho 5 năm học chuyên ngành. Cô giáo là người Nga, nói tiếng Nga rất tốt. Chồng cô đã mất rất lâu rồi. Cô chỉ sống với cô con gái. Bà giáo có khuôn mặt phúc hậu. Luôn quan tâm đến chúng tôi. Từ chổ ăn ở đến đạo đức , tác phong, kiến thức. Bà dạy chúng tôi phát âm, đọc, viết, nghe hiểu, nói, văn phạm. Bà có khả năng sư phạm tốt nên chúng tôi lĩnh hội kiến thức nhanh. Qua một vài tháng học, chúng tôi bắt đầu học lịch sử, văn học nước Nga. Bà giảng hay lắm, có tính thuyết phục cao. Nhớ nhất là chúng tôi được đọc những bài thơ của nhà thơ kiệt suất Nga Puskin trong đó có đoạn mà tôi nhớ mãi:

Tôi yêu em

Tôi yêu em: đến nay, chừng có thể,
Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai;
Nhưng không để em bận lòng thêm nữa;
Hay hồn em phải gợn bóng u hoài.

Tôi yêu em âm thầm, không hy vọng,
Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen;
Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm,
Cầu em được người tình như tôi đã yêu em…

Em bảo anh đi đi

Em bảo: "Anh đi đi"
Sao anh không đứng lại ?
Em bảo: "Anh đừng đợi"
Sao anh vội về ngay ?

Lời nói thoảng gió bay
Đôi mắt huyền đẫm lệ
Mà sao anh dại thế
Không nhìn vào mắt em…

Anh nhớ mãi phút giây huyền diệu

Anh nhớ mãi phút giây huyền diệu
Trước mắt anh, em bỗng hiện lên
Như hư ảnh mong manh vụt biến
Như thiên thần sắc đẹp trắng trong.

Giữa day dứt sầu đau tuyệt vọng
Giữa ồn ào xáo động buồn lo
Tiếng em nói bên tai anh văng vẳng
Bóng dáng em, anh gặp lại trong mơ.

Tháng ngày qua những cơn gió bụi
Đã xua tan mộng đẹp tuổi thơ
Lãng quên rồi giọng em hiền dịu
Nhoà tan rồi bóng dáng nguy nga.

Giữa cô quạnh, âm u tù hãm
Dòng đời trôi quằn quại hắt hiu
Chẳng thiên thần, chẳng nguồn cảm xúc
Chẳng đời, chẳng lệ, chẳng tình yêu.

Cả hồn anh bỗng bừng bừng tỉnh giấc
Trước mắt anh, em lại hiện lên
Như hư ảnh mong manh vụt biến
Như thiên thần sắc đẹp trắng trong.

Trái tim lại rộn ràng náo nức
Vì trái tim sống dậy đủ điều
Cả thiên thần, cả nguồn cảm xúc
Cả đời, cả lệ, cả tình yêu.

Bà giáo khen tôi đọc có truyền cảm. Nhiều hôm bà mời chúng tôi về nhà bà ăn cơm. Nhà bà làcăn hộ 3 phòng nhưng được sắp xếp ngăn nắp. Các giá sách đầy ắp những cuốn sách. Chủ yếu là sách văn học. Những bữa cơm Nga thật mới lạ nhưng ngon miệng. Đó là bánh mì trắng,đen, bơ, sữa, canh súp thập cẩm, thịt bò ốp let, trứng chiên, rau sống, cà chua, dưa chuột, đồ uống, hoa quả tráng miệng… Bàn ăn hình tròn có vải trải bàn. Trên bàn bày nhiều loại đĩa và dụng cụ như muỗng, xỉa, dao cắt bằng Inox sáng, sạch.Các đĩa thức ăn bày nhiều, đẹp, hấp dẫn. Nhìn bàn ăn và cách trang trí cũng đủ thấy rất quý tộc và hiếu khách. Khi ăn chúng tôi không biết nên cầm cái gì và ăn món gì trước. bà giáo phải chỉ cho chúng tôi tay cầm cái gì và ăn như thế nào. Đúng là thật ngượng ngùng. Cứ mỗi lần bà mời về nhà là chúng tôi được ăn ngon theo các món ăn Nga đặc trưng.
Bà giáo người Nga thứ hai là người hướng dẫn luận văn tiến sĩ kinh tế của tôi. Bà là giáo sư, tiến sĩ Viện Kinh Tế thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Nga. Đây cũng là một cô giáo đôn hậu, tận tụy với học sinh. Lần này tôi được sống, học tập và làm việc tại thủ đô Matxcova hoa lệ. Luận án tiến sĩ kinh tế của tôi về đề tài: “Vai trò doanh nghiệp nhỏ Việt Nam trong nền kinh tế thị trường”. Bà giáo đã giúp tôi rất nhiều trong việc chọn đề tài, sưu tầm tài liệu, làm các bài báo, luận văn và cuối cùng là bảo vệ thành công luận án. Cuối những năm 90 nền kinh tế Nga rơi vào khủng hoảng. Cuộc sống khó khăn, nhưng bà vẫn dành rất nhiều thời gian cho luận án của tôi. Tôi học được ở bà lòng nhân hậu, sẽ chia, kỷ năng phân tích và xử lý tình huống, tính nghiêm túc trong công việc.  
Người Nga thứ ba mà tôi đã cónhững năm tháng sống và làm việc cùng là giám đốc một xưởng dệt thuộc tập đoàn dệt may Ucraina. Bà là một người quản lý rất quan tâm đến con người. Quyết đoán, tính kế hoạch, kỷ năng quản lý, điều hành doanh nghiệp, lòng nhân từ, sẳn sàng giúp đỡ mọi người… đó là những gì toát ra từ con người này.
Sau này tôi được may mắn sống, làm việc, học tập với rất nhiều người nga khác. Tất cả ở họ đều có lòng nhân hậu, tình yêu con người, tinh thần trách nhiệm, sự giúp đỡ vô tư không tính toán. Những đức tính đó giúp cho tôi trang bị thêm kiến thức về cuộc sống, tình yêu, công việc, tinh thần tương thân tương ái, lòng vị tha, khả năng đối nhân xử thế. Đó là những tài sản quý giá cho mỗi một con người.


Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

CẢM XÚC ĐÁM CƯỚI VÀNG





Thấm thoắt mới đó mà ba mẹ chúng tôi thành hôn và sống với nhau đã được 50 năm. Trong quá trình chung sống chúng tôi rất tự hào về cha mẹ mình. Họ sống rất chung thủy, hạnh phúc, có trách nhiệm, bao dung và đạo đức…
Ông sinh 1937 trong một gia đình lao động, bố làm thợ may, mẹ làm công việc nội trợ, là người con trai út được nuôi dạy cẩn thận. Ông được gia đình cho ăn học lớn lên làm nghề dạy học. Phần lớn cuộc đời của ông gắn liền với cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Tốt nghiệp trường đào tạo giáo viên, ông đi dạy học từ những năm đầu tiên của thập kỷ sáu mươi. Ông làm hiệu trưởng nhiều năm trong một số trường ở địa phương. Những năm đầu của cuộc chiến tranh cái gì cũng thiếu thốn. Trường chỉ là những ngôi nhà tranh vắt đất. Sống chết bên cạnh, đồng lương thấp, cuộc sống và công việc giảng dạy gặp rất nhiều khó khăn. Tuy vậy ông đã không ngừng phấn đấu vượt qua tất cả để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Ông là thương binh và đã được nhà nước trao tặng huân chương lao động và nhiều bằng khen, giấy khen của sở giáo dục. Ông đã cống hiến rất nhiều năm cho ngành giáo dục. Rất nhiều thế hệ học sinh của ông đã trưởng thành. Nhiều người hiện đng giữ nhiều cương vị cao như giám đốc các sở, chủ tịch huyện, giáo sư, tiến sĩ…

Bà sinh năm 1939 trong một gia đình nông điền, bố mẹ có nhiều ruộng. Bà rất cần cù chịu khó làm việc, là con út nên được gia đình chiều chuộng, thương yêu nhất. Tuy vậy bà vẫn luôn tự mình rèn luyện, học hỏi thành người. Khi đã cưới chồng vừa làm ruộng, nội trợ và làm thợ may. Bà là hình ảnh điển hình của người phụ nữ  Việt Nam: chung thủy, chịu thương, chịu khó, trung hậu, đảm đang, thương chồng, thương con …

Ông bà thành hôn vào năm 1958. Năm đó đất nước còn nghèo, cuộc sống hết sức khó khăn. Tình yêu của họ chớm n từ cái nhìn đầu tiên. Họ đến với nhau bằng tình yêu đôi lứa cháy bỏng và sự rung động  của hai con tim. Thời đó con cái xây dựng gia đình là do bố mẹ sắp đặt trước. Riêng đối với ông bà có sự tìm hiểu, cảm thông và có tình yêu thực sự. Ông và bà bắt đầu  từ số không. Bằng bàn tay và khối óc của mình để xây dựng tỗ ấm. Những năm 60 là những năm chiến tranh ác liệt. Đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền bắc. Quảng Bình gánh chịu biết bao tấn bom đạn của giặc Mỹ. Trong hoàn cảnh cái chết, cái sống bên cạnh, cái đói kéo dài, có những lúc không có cơm ăn và áo mặc. Cuộc sống nhiều lúc tưởng chừng như không thể vượt qua. Ông và bà đã bình tỉnh xữ lý từng tình huống một, sát cánh bên nhau, cùng nhau đoàn kết, thắt lưng buộc bụng xây dựng hạnh phúc gia đình. Sau cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước kết thúc, cuộc sống lại trở nên khó khăn hơn. Cả nước bắt tay vào công cuộc tái thiết đất nước. Cuộc sống những năm tháng đó vô cùng thiếu thốn. Ông bà cùng các con lao động ngày đêm để chiến thắng giặc đói. Cuối cùng gia đình đã vượt qua những ngày tháng vô cùng khó khăn này.
Năm 2002 toàn bộ gia đình chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây họ sống an nhàn và hạnh phúc cùng với con cháu thân yêu của mình.

Ông bà sinh được 06 người con và đã nuôi dưỡng các con nên người. Trong hoàn cảnh chiến tranh lúc bấy giờ nhiều gia đình không thể cho con cái họ đi học được. Ông bà đã quyết định bằng bất cứ giá nào cũng phải cho các con đi học. Đó là một quyết định đúng. Ông bà phải làm lụng hết sức vất vả, không kể ngày đêm nhiều lúc quyên cả thân mình để kiếm tiền nuôi các con ăn học. Kết quả là ông trời không phụ lòng ông bà. Các con của ông bà đã trưởng thành. Trong những người con của ông bà có nhiều người tốt nghiệp đạii học ở nước ngoài. Họ là những tiến sĩ, cử nhân, doanh nhân thành đạt ở trong và ngoài nước. Các con của ông bà phần lớn  đã có gia đình riêng và đã có nhà riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, Huế và Hà Nội. Hiện ông bà đã có 10 người con kể cả dâu, rể và 06 cháu nội ngoại.

Người con cả của ông bà sau khi tốt nghiệp phổ thông đã trúng tuyển đi du học nước ngoài trong một thời gian dài. Những năm 70 vấn đề đi du học nước ngoài là sự kiện rất hiếm và là vinh dự của cả địa phương, gia đình, dòng họ. Sau khi tốt nghiệp về nước anh công tác giảng dạy ở trường đại trong nước. Sau đó anh đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài. Năm 2000 bảo vệ thành công luận án tiến sĩ kinh tế, anh trở về nước thành lập công ty. Công ty của anh đã giãi quyết nhiều công ăn việc làm cho nhiều người. Anh đã xây dựng gia đình và có hai cháu. Vợ anh là Bác sĩ. Chị đã  đi rất nhiều nước trên thế giới như Anh, Pháp, Đức, Mỹ… Các cháu của anh chị khỏe mạnh và học giỏi.

Người con thứ hai của ông bà tốt nghiệp trường sư phạm, thực tập sinh ở nước ngoài. Hiện đang định cư cùng gia đình tại Đúc. Công việc kinh doanh của anh chị đang tiến triển tốt. Họ đã mua nhà ở Việt Nam. Anh chị đã có hai cháu, các cháu đều học giỏi của thành phố nước bạn.

Người con thứ ba cũng sinh sống ở nước ngoài nhiều năm. Hiện giờ sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh.
Người con thứ tư sau khi thực hiện nghĩa vụ quân sự, anh ra nước ngoài làm ăn sinh sống. Anh xây dựng gia đình và có một cháu trai. Nhờ đức tính cần cù chịu khó, dám nghỉ, dám làm, họ đã thành công trong một số lĩnh vực như: bất động sản, sản xuất kinh doanh.
Gia đình người con thứ năm hiện đang định cư ở Đức. Họ đã có một cháu trai khỏe mạnh. Nhiều năm sống ở nước ngoài nhưng họ thường xuyên về Việt Nam thăm quê. Cứ mỗi lần về quê là mỗi lần hiểu và yêu đất nước mình hơn. đó là động lực làm tăng thêm sức mạnh, khát vọng làm giàu cho gia đình và đất nước. Năm nay họ về quê với niềm cảm hứng mới với sự kiện trọng đại: ông bà kỷ niệm đám cưới vàng. Với mấy tuần về thăm quê rồi lại ra đi mang theo tình yêu gia đình, quê hương đất nước. để rồi khi trở lại nơi đất khách quê người, họ còn lưu luyến bùi ngùi với những ngày về quê hương ngắn ngũi nhưng đầy ắp những kỷ niệm.

Chú út là cử nhân kinh tế, có cơ sở kinh doanh của mình.  
Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, hôm nay đây con cháu của ông bà hội tụ về đây, trong toà nhà mà gia đình quyết định đặt bàn thờ tổ tiên để kỷ niệm 50 năm đám cưới vàng và mừng cụ bà 70 tuổi. Ai ai cũng vui sướng và hồ hi chuẩn bị làm lễ. Những kỷ niệm xưa cứ ào ạt tràn về làm họ nhớ lại những năm tháng tuổi thơ. Đó là cảnh anh em chia nhau từng củ khoai củ sắn, đói rét có nhau. Đó là ngôi nhà cũ mà họ đã sinh ra và lớn lên với bao nhiêu kỷ niệm êm đềm, là làng quê xinh xinh với rặng tre xanh, là bờ biển dài với bờ cát trắng. Đó là những cánh đồng bát ngát với dòng sông chảy nặng phù sa. Đó là những năm tháng chiến tranh ác liệt mà mỗi hòn đá, gốc cây đều ghi bao dấu ấn lịch sử. Đó là những kỷ niệm tuổi học trò hồn nhiên và vô tư cùng với những  năm tháng đã trôi qua không bao giờ quay trở lại.
Dưới sự giáo dục, nuôi dưỡng của ông bà đại gia đình đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Thành công to lớn mà đại gia đình đạt được là kết quả của một quá trình phấn đấu không ngừng của tất cả thành viên gia đình. Là khát vọng vươn đến một cuộc sống tốt đẹp hơn, là ước mơ cháy bỏng muốn làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội. Hằng năm dù ở trong nước hay ở nước ngoài các con cháu của ông bà cũng cố gắng sum họp thăm ông bà.
Những năm tháng tuổi già ông bà có một cuộc sống thật hạnh phúc bên cạnh con cháu. Cuộc sống thường nhật của họ thật giản dị, mộc mạc và đơn sơ. Sáng sáng, chiều chiều ông bà bảo ban nhau tập thể dục. Bà vẫn đi chợ nấu cho ông ăn, giặt áo quần, vệ sinh nhà cửa. Ông thì tưới cây, nghe nhạc, đưa đón các cháu đi học. Họ vẫn luôn quan tâm đến sự tiến bộ của con cháu, giúp đỡ con cháu những lúc cần thiết. Họ vẫn đùa gin nhau như như đôi tình nhân trẻ, vẫn yêu thương nhau như ngày nào. Đó là những điều đáng quý nhất mà không phải vợ chồng già nào cũng có được.

Tuy cuộc sống rất bận rộn, gia đình vẫn thường xuyên gặp nhau trao đổi công việc. Thỉnh thoảng gia đình tổ chức đi chơi dã ngoại,đi nghỉ, du lịch những nơi danh lam thắng cảnh của đất nước. Qua những chuyến đi tình cảm gia đình gắn bó hơn, mọi người hiểu nhau hơn.

Dù ở xa quê nhưng gia đình vẫn thường xuyên tổ chức những chuyến về quê thăm bà con, thăm viếm lăng mộ. Lăng của bên nội, ngoại đều nằm ở vị trí rất đẹp có hồ, có núi hữu tình. Đó là sự ban thưởng của tạo hóa cho những người đang sống và những người đã khuất, là sự bình yên cho những linh hồn đã về nơi vĩnh hằng.

Ông bà dạy con cháu: phải luôn luôn học tập rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, phải đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Phải chuyên sâu và sáng tạo trong công việc. Phải rèn luyện sức khỏe để sống khỏe mạnh. Phải có chí tiến thủ, sống phải có mục đích, phải có khát vọng, ước mơ…

50 năm đã trôi qua. 50 năm là nữa thế kỷ, là cả một đời người. Thời gian là sự minh chứng của lòng người. 50 năm qua biết bao sự kiện, khó khăn, vui buồn. Ông bà có biết bao kỷ niệm trong quãng thời gian dài đó. Từ những ngày đầu thành hôn, cuộc sống gia đình còn mới lạ cho đến bây giờ tóc đã điểm bạc. 50 năm qua ông bà đã sống hết mình với tình yêu cháy bỏng. Họ đã tr thành đôi bạn già tri kỷ. Nhìn lại thời gian đã qua họ không có điều gì hối tiếc, không hổ thẹn với những gì mình đã làm. Chỉ tiếc một điều thời gian qua đi mà không bao giờ trở lại. Ước gì con người được sống mãi không già, ước gì con người được sống khỏe mạnh mãi mãi để yêu thương nhau. 

Đến giờ phút này ông bà sống khỏe mạnh, chung thủy, quan tâm và yêu thương nhau. Họ không bao giờ rời xa nhau. Ông bà là sự hội tụ của tình yêu, tình nghĩa vợ chồng sâu nặng. Tất cả những điều đó tạo nên nguồn cảm hứng, tình yêu cuộc sống, nguồn sức mạnh vô tận để vượt qua những khó khăn. Ông bà là tấm gương sáng ngời về tinh thần vượt khó, tình yêu, lòng chung thủy, yêu thương con cái hết mình. Ông bà đã để lại cho con cháu muôn vàn điều quý giá về tình yêu, cuộc sống, đạo lý làm người.
Nhiều lúc vì cơm áo gạo tiền, vì kế sinh nhai chúng ta có lúc nào đó sao nhãng việc phụng dưỡng cha mẹ để rồi khi họ nhắm mắt xuôi tay chúng ta lại ân hận mãi suốt đời. Cả đời đời, kiếp kiếp chúng ta cũng không bao giờ trả hết hiếu cho công ơn trời biển bao la của bố mẹ. Hãy quan tâm tới bố mẹ từ những việc nhỏ nhất đó là bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng lêng của mỗi con người.
Hình ảnh của ông bà là hình ảnh của Thuyền và Biển mà Xuân Quỳnh đã viết:

Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu về đâu
Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
lòng thuyền đau rạn vỡ
Nếu từ giả thuyền  rồi
Biển chỉ còn sóng gió
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bảo tố.
                                                                                         
Chúng con nguyện noi gương bố mẹ, sống khỏe, lành mạnh, thương yêu giúp đỡ  lẫn nhau, cùng nhau đoàn kết, tập trung mọi nguồn tài, lực để xây dựng gia đình đàng hoàng hơn, giàu có hơn, xứng đáng với lòng mong mỏi của cha mẹ, ông bà, họ hàng, tổ tiên.

Chúng con xin chúc bố mẹ luôn mạnh khỏe, sống hạnh phúc.

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 08/2008

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

NHỚ MÃI MATXCOVA THÁNG 10 NĂM 1980


Máy bay chở chúng tôi đáp xuống phi trường She-re-men-che-vơ Mat-xi-cơ-va. Đó là buổi sáng ngày mùa thu khi những rừng cây quanh phi trường ngã màu vàng rực – mùa thu vàng. Từ trên máy bay nhìn xuống ngoại ô matxcova như một tấm thảm màu vàng tuyệt đẹp. Những cánh đồng lúa mì thẳng cánh cò bay.
Chúng tôi nhanh chóng rời khỏi máy bay đi vào chổ làm thủ tục nhập cảnh. Sân bay này thật lớn, có nhiều đường băng, nhiều máy bay cất cánh và hạ cánh cùng một lúc. Đó là điều ngoài sức tưởng tượng của tôi. Trung tâm sân bay là một tòa nhà nhiều tầng, có nhiều tiền sảnh rộng lớn, tất cả sàn lát đá hoa cương trông rất tráng lệ. Đây là sân bay quốc tế lớn nhầt nước Nga nên khách quốc tế rất đông. Tác phong của họ rất nhanh nhẹn và dứt khoát. Các sĩ quan an ninh và biên phòng của Nga mặc đồng phục rất đẹp. Sau gần một tiếng làm thủ tục nhập cảnh chúng tôi đi ra nơi đón tiếp.
Đại diện nhà khách sứ quán đón chúng tôi tại sân bay. Chúng tôi nhanh chóng ra xe và lên đường về nhà khách. Xe vừa ra khỏi sân bay thì xuất hiện những cánh rừng bạch dương với sự hiện diện của mùa thu vàng. Cả cánh rừng ngã một màu vàng tươi, cảm giác thật mới lạ. 
Thiên nhiên đã ban tặng cho nước Nga mùa thu vàng tuyệt diệu khiến những ai đã đi qua nơi đây phải lay động, thổn thức tâm hồn. Đại lộ rộng lớn, nhiều làn xe ô tô nối đuôi nhau. Đúng là một thành phố mang dáng dấp hiện đại bậc nhất thế giới. 
Những kiến trúc Châu Âu hiện lên rõ nét, những ngôi nhà chọc trời, những công viên rộng lớn với hàng chục ngàn cây xanh rợp bóng. Con sông Matxcova quanh co uốn lượn như làm tăng thêm vẽ đẹp thơ mộng của thành phố thủ đô - thành trì của chủ nghĩa xã hội. Hai bên bờ sông là những con đường với những dãy nhà cao vút trời. Cửa hàng nằm san sát trên mặt tiền các đại lộ. Thành phố này vừa diễn ra Fectival thế giới nên được chĩnh trang như mới. Cảm giác đầu tiên là chúng tôi choáng ngợp với quang cảnh, con người ở đây.
Nhà khách sứ quán như một khách sạn. Mỗi phòng bố trí 02 người, giường đệm ga trắng, sàn trải thảm, có bàn ghế, tủ, điện thoại nội bộ. Thời đó ở Việt Nam rất hiếm có những khách sạn như thế này. Chúng tôi ăn cơm ờ nhà ăn không mất tiền. Ngoài ra được cấp thêm 1,2 rúp để tiêu vặt mỗi ngày. Bữa cơm đầu tiện ở nước ngoài có cơm gạo thơm, canh, bắp cải luộc, thịt kho ăn thật ngon.
Những ngày sau đó là những ngày đầy khám phá. Chỉ có hai tuần ở thành phố này nên chúng tôi tranh thủ đi chơi để tìm hiểu thành phố. Khí hậu mùa thu tiết trời se lạnh. Chúng tôi mặc áo vét đi chơi. Ra khỏi nhà khách chúng tôi nhìn thấy rất nhiều cây cối. Khắp mọi nẻo đường mùa thu vàng đang thời kỳ rực rỡ nhất. Cảm tưởng như cây được gắn lá bằng vàng thật. Cảnh vật thật tuyệt đẹp. Giữa những toà nhà có nhiều ghế dài để ngồi nghỉ, đi tí nữa là những ki ốt bán báo, tạp chí, nhiều cửa hàng bán bánh mì, thực phẩm.
Chúng tôi hỏi bến tàu điện ngầm rồi đi bộ tới đó. Đó là bến gần nhà khách và bến tàu điện ngầm đầu tiên  trong đời tôi xuống. Bến Công Viên Văn Hóa. Thả tiền xu vào máy, đi theo cầu thang máy xuống tàu điện ngầm. Đường vào là một cái hang rất sâu có thang máy dài sâu thẳm, càng xuống càng mát và ấm áp. Do có hệ thống quạt thông gió và chuyển động của những đoàn tàu nên ở trong đường hầm gió ào ào. Đèn bên trong bật sáng trưng. 
Khi chúng tôi xuống tận bến tàu thì rất đổi ngạc nhiên. Bến tàu như một cung điện thu nhỏ. Những kiến trúc chạm trổ mang đậm nét châu âu. Người đi lại rất đông, tác phong nhanh nhẹn, không bao giờ va chạm nhau, câu xin lỗi, cảm ơn thường xuyên phát ra nơi miệng họ. Mùi nước hoa lan tỏa khắp nơi, hương thơm ngào ngạt. 
Đoàn tàu chạy đến rất nhanh rồi dừng lại đột ngột nơi sân ga. Cửa tự động mở ra, chúng tôi cùng với đoàn người nhanh chóng vào trong toa tàu. Các cửa tàu đóng lại, đoàn tàu lao vụt về phía trước. Cứ thế chúng tôi đi mãi, đi mãi trong lòng đất. Hết ga này rồi đến ga khác không chán. Mỗi ga tàu là một công trình kiến trúc khác nhau, cảm tưởng cứ như những cung điện nối với nhau không bao giờ kết thúc. Khi nhìn đồng hồ thì đã giờ chiều. Chúng tôi chợt tỉnh là không nhớ bến xuống đầu tiên là bến nào. Bây giờ đúng là khó khăn rồi, phải sử dụng vốn từ ngoại ngữ đã học thôi. Chúng tôi hỏi người làm việc trong ga tàu nhưng họ nói quá nhanh không thể hiểu được. May quá trong số anh em chúng tôi có số điện thoại của nhà khách thế là biết được bến xuống ban đầu. Cuối cùng chúng tôi cũng về được nhà.

Matxcova thật tuyệt đẹp. Cái gì cũng to lớn và ngăn nắp, sạch sẽ. Hệ thống giao thông hiện đại, hạ tầng cơ sở rất tốt. Ở đây có nhiều công trình kiến trúc nỗi tiếng. Đó là Quảng Trường Đỏ, Cung Điện Kremli, trường đại học tổng hợp Lô Mô Nô Xốp, tháp truyền hình Octankino, khu triển lãm kinh tế quốc dân, đồi Lê Nin, tàu điện ngầm, nhiều công viên đẹp, sông Matxcova xinh đẹp và êm đềm…
Matxcova có nhiều tiệm bánh mỳ với đầy đủ chủng loại. Xứ sở này là quê hương của bánh mỳ. Kem ở đây có rất nhiều loại, ăn rất ngon. Tôi nhớ mãi cứ mỗi lần ra hiệu kem là chúng tôi khoái lắm. Tôi chọn loại kem to nhất, ăn xong là no luôn. Các quầy bán báo, tạp chí, phong bì thư.. ở khắp nơi. Chúng tôi mua nhiều phong bì và giấy để viết thư. Những lá thư đầu tiên của tôi từ nước ngoài chuyển về cho gia đình và bạn bè mang nhiều điều khám phá, cảm xúc mới lạ về đất nước con người Nga.

TÁO MATXCOVA NGON THẬT



Những ngày đầu đặt chân tới thủ đô nước Nga thật là ký diệu và đầy khám phá. Một trong những khám phá đó là quả táo tây. Phòng chúng tôi ở tầng ba có cửa sổ nhìn ra vườn cây ăn quả mang tên nhà văn vĩ đại Nga Tônxtôi. Trong vườn có rất nhiều cây táo sai quả. Vườn được bảo vệ bởi bức tường cao. Chúng tôi nghỉ cách đột nhập để hái táo.
Sáng hôm đó trời rất đẹp chúng tôi bắt đầu tìm nơi để leo vào. Đó là cánh cửa cồng, nhìn trước sau không có ai chúng tôi nhanh chóng leo vào. Trèo lên cây hái táo ăn ngon lành. Vị táo vừa chua vừa ngọt, ăn mãi không thấy chán. Một lúc sau cái bụng no nê, chúng tôi còn hái rất nhiều táo bỏ vào mù cối mang về phòng ăn. Táo ăn mấy ngày không hết. mấy ngày sau nhìn thấy táo là ngán luôn vì ăn một lúc quá nhiều.
Một ngày đầy nắng chúng tôi đi chơi ở Đồi Lê Nin. Qua nhiều ga tàu điện ngầm cuối cùng chúng tôi lên một bến tàu gần Đồi Lê Nin và bắt đầu đi bộ. Trên đường đi có nhiều cây táo dọc đường. trên cây có nhiều quả táo chín mọng đỏ. Có quả chỉ bằng đầu người. Nhiều người Nga đi qua lại mà không thấy ai hái quả nào. Trên đường thỉnh thoãng có điểm bán trái cây. Họ xếp hàng mua táo nhưng không ai hái táo trên trên đường. Quả là một đất nước no đủ và tính tự giác rất cao. Chúng tôi cực kỳ ngạc nhiên. Nếu như những cây táo này ở Việt Nam thì không còn quả nào.
Trên đường về chúng tôi đi theo đường khác. Lần này đi vào công viên có nhiều táo. Trong lúc mặc  bộ áo vét chúng tôi vẫn leo lên cây để hái táo. Lần này là vườn táo ở trong công viên nên có người qua lại. Họ nhìn chúng tôi với con mắt ái ngại, có gì đó có vẽ cảm thông, chia sẻ. Tôi nhớ mãi những ánh mắt đó. Có lẽ họ cảm thông với sứ giả của một dân tộc anh hùng vừa kết thúc chiến tranh thắng Pháp, Mỹ và Trung Quốc. Họ vừa khâm phục vừa thương hại đại diện một dân tộc nhỏ bé, chiến tranh triền miên không bao giờ nghỉ.
Sau lần đó chúng tôi cảm thấy xấu hổ với hành động hái trộm táo của mình. Giờ đây ngồi nghỉ lại thấm thoắt đã hơn ba mươi năm trôi qua. Hái táo là kỷ niệm không bao giờ quên. Cuộc đời cũng có lúc thăng trầm lúc thiếu, lúc đủ, nhưng chúng tôi vẫn lấy việc hái táo này là một bài học. Không nên lấy của công, không nên lấy cái gì không phải của mình. Sống phải liêm khiết, thật thà. Dân ta có câu: đói cho sạch, rách cho thơm quả là đúng đắn.